Giải quyết nợ đọng tại địa phương và những vấn đề bất cập

30/09/2014

Nợ xây dựng cơ bản (XDCB) là phần khối lượng hoàn thành các công trình, hạng mục công trình nhưng chưa được cấp vốn thanh toán (hay phần khối lượng hoàn thành công trình thực hiện vượt mức vốn được bố trí). Như vậy, nợ XDCB ở đây sẽ bao gồm nợ các công trình quyết toán, nợ công trình hoàn thành chưa quyết toán và nợ khối lượng hoàn thành (KLHT) các công trình chuyển tiếp. Tuy không còn là vấn đề quá nóng như những năm trước, nhưng câu chuyện nợ đọng xây dựng cơ bản (XDCB) vẫn luôn là nỗi lo về vốn của các chủ đầu tư, nhất là các nhà thầu xây dựng. Kinh tế càng khó khăn, ngân sách càng eo hẹp thì bài toán giải quyết nợ đọng cơ bản càng trở nên gian nan.


Ban Kinh tế- Ngân sách HĐND tỉnh giám sát tại Sở Kế hoạch và Đầu tư

Tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản hiện nay diễn ra khá phổ biến và ở mức độ có chiều hướng ngày càng tăng, gây ra các hậu quả như: Công trình thi công dở dang, kéo dài, hiệu quả đầu tư kém; chủ đầu tư không có nguồn vốn để thanh toán cho giá trị khối lượng thực hiện; nhiều doanh nghiệp xây dựng, nhà thầu nợ lương công nhân, chiếm dụng vốn của nhau, không ít doanh nghiệp giải thể và phá sản; góp phần làm cho nợ xấu của ngân hàng tăng lên,… đã và đang ảnh hưởng xấu đến an ninh tài chính, an toàn nợ công và tăng trưởng kinh tế bền vững.

Xử lý nợ đọng XDCB được xem là một nội dung quan trọng của tái cơ cấu đầu tư công và lập lại kỷ cương trong đầu tư XDCB. Theo số liệu báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư Vĩnh Phúc tổng hợp đến hết 31/12/2013 tổng nợ XDCB trên toàn tỉnh là: 4.509,2 tỷ đồng, trong đó: Ngân sách TW nợ: 26,3 tỷ đồng; cấp tỉnh nợ là: 2.161,3 tỷ đồng (gồm các dự án do các ngành làm chủ đầu tư; các công trình huyện, xã làm chủ đầu tư do UBND tỉnh phê duyệt và các xã thực hiện theo Nghị quyết số 19 của HĐND tỉnh, xã nghèo…); ngân sách huyện nợ là: 1.101,8 tỷ đồng; ngân sách cấp xã nợ và các nguồn huy động hợp pháp khác là: 1.219,8 tỷ đồng. Trong tháng 6 năm 2014, Sở Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục tổ chức rà soát lại toàn bộ số nợ XDCB toàn tỉnh, trong đó tập trung vào 9 huyện, thành, thị. Qua rà soát số nợ XDCB đến thời điểm 30/4/2014 số nợ XDCB còn: 2.977,1 tỷ đồng trong đó: ngân sách Trung ương nợ 21,1 tỷ; ngân sách cấp tỉnh nợ: 1.174 tỷ đồng, ngân sách cấp huyện nợ: 611,5 tỷ đồng, ngân sách xã nợ và nguồn khác: 1.170,5 tỷ đồng.

Đi tìm nguyên nhân của nợ đọng XDCB, cho thấy có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, từ cả phía các cơ quan quản lý sở, ngành địa phương và chính cả nhà thầu. Sở, ngành địa phương thì xây dựng, phê duyệt quy hoạch phát triển chưa gắn với nguồn lực đảm bảo thực hiện quy hoạch; không chấp hành đúng pháp luật trong đầu tư XDCB. Còn tình trạng buông lỏng công tác quản lý, chưa hoặc không kiểm tra, phát hiện, giám sát kịp thời; không tổ chức theo dõi, quản lý nợ khối lượng XDCB; bố trí vốn đầu tư dàn trải, chưa hoặc không quan tâm đến thanh toán nợ đọng và còn có tư tưởng trông chờ vào hỗ trợ từ ngân sách cấp trên. Đặc biệt phân cấp quyết định đầu tư công trình không gắn với giám sát, kiểm tra và năng lực quản lý đầu tư. Trong khi chưa có cơ chế giám sát tương xứng đã tạo ra khe hở để các huyện, thị xã, thành phố phê duyệt quyết định đầu tư công trình tràn lan hiệu quả thấp, gây ra các tác động tiêu cực cho công tác quản lý nợ công của tỉnh.

 Đáng chú ý, từ phía các nhà thầu, vì sức ép của công ăn việc làm nên vẫn thi công, thậm chí ứng vốn trước mặc dù không rõ nguồn vốn thanh toán đã cùng với địa phương gây ra tình trạng nợ đọng trong XDCB. Một số nhà thầu quan niệm rằng các công trình quan trọng của địa phương sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì trước sau sẽ được thanh toán vốn nên đã vay mượn để thi công. Ngoài ra còn một lượng lớn các công trình dự án đã hoàn thành nhưng không đầy đủ hồ sơ quyết toán hoặc không lập hồ sơ quyết toán vốn (tính đến thời điểm 31/12/2013 là 1.614 dự án). Trên thực tế do phân cấp, chủ đầu tư có nhiều quyền, nhưng khả năng và năng lực quản lý đầu tư XDCB của một số chủ đầu tư còn hạn chế, để xảy ra tình trạng tiến độ xây dựng công trình chậm, thậm chí đã hết thời gian gia hạn hợp đồng vẫn chưa hoàn thành công trình. Một số chủ đầu tư ở cấp xã quyết định phê duyệt dự án tổng mức đầu tư quá lớn, vượt quá quy mô cần thiết, vượt quá khả năng nguồn vốn, trong khi các nguồn vốn khác không huy động được mà chủ yếu trông chờ vào vốn ngân sách cấp trên hỗ trợ nên không có khả năng thanh toán cho giá trị khối lượng đã thực hiện.

   Thực trạng trên đã và đang làm gia tăng khối lượng nợ đọng XDCB, nhất là ở xã, gây khó khăn cho công tác cân đối bố trí vốn hằng năm, ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính và việc làm của một số doanh nghiệp xây dựng. Trong khi, vốn ngân sách Nhà nước hiện nay và trong thời gian tới rất hạn hẹp do dự báo tình hình thu ngân sách tiếp tục khó khăn; vốn trái phiếu Chính phủ không thể phát hành tăng thêm nhiều để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, giảm dần bội chi ngân sách nhà nước, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, dư nợ công ở mức cho phép.

 Để từng bước khắc phục và kiểm soát nợ đọng XDCB ngoài việc thực hiện công tác lập kế hoạch trong quản lý chi đầu tư XDCB từ NSNN cần chính xác kịp thời, trọng tâm; thực hiện công tác thanh toán và kiểm soát thanh toán đầu tư XDCB từ NSNN qua kho bạc Nhà nước chặt chẽ, kịp thời, đúng kế hoạch;  ưu tiên các nguồn lực tài chính cho các công trình chờ quyết toán; tích cực kiểm tra, thanh tra, giám sát phân bổ, thanh toán và quyết toán, sử dụng nguồn NSNN trong đầu tư XDCB cần thiết thực hiện một số biện pháp sau nhằm kiểm soát nợ đọng và tiến tới 2015 toàn tỉnh không còn nợ đọng XDCB:

Một là, kiên quyết trong xử lý các sai phạm theo đúng tinh thần Chỉ thị số 27/2012/CT-TTg, ngày 10/10/2012, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu từng địa phương phải kiểm điểm, xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan (gắn với trách nhiệm cá nhân) trong việc để phát sinh nợ đọng XDCB.

Hai là, triệt tiêu cơ chế xin cho, kiên quyết chấm dứt tình trạng các địa phương quyết định về dự án đầu tư, nhưng nguồn vốn lại đợi ngân sách tỉnh, trung ương hỗ trợ. Việc giải quyết nợ đọng XDCB hiện tại và quan trọng hơn là hạn chế phát sinh kiểu nợ này trong tương lai, cần được bắt đầu từ đổi mới mạnh mẽ thể chế kinh tế, trong đó có đổi mới về cơ chế phân cấp, phân bổ và quyết toán ngân sách. Nhất là cần phân định rõ ràng ngân sách quốc gia và ngân sách địa phương. Ngân sách quốc gia, thì do Quốc hội dự toán, giám sát và quyết toán. Còn ngân sách địa phương, thì do Hội đồng nhân dân các cấp quyết định. Có như vậy, mới có thể hạn chế cơ chế xin - cho và “chạy” vốn như đã đề cập ở trên.

Ba là, điều chỉnh quản lý tránh phân cấp quá mạnh, trong khi chưa có cơ chế giám sát tương ứng, tránh thực hiện phân cấp mạnh trên nhiều lĩnh vực, tiêu chí phân cấp chưa chuẩn xác trong khi chưa có cơ chế kiểm tra, giám sát tương xứng tạo ra khe hở để các ngành, địa phương đầu tư tràn lan, gây ra các tác động tiêu cực cho kinh tế vĩ mô.

Bốn là, tiếp tục rà soát, ban hành, điều chỉnh các văn bản pháp lý của tỉnh có liên quan tới quản lý chi đầu tư XDCB từ NSNN, ban hành hệ thống hành lang pháp lý phù hợp với các văn bản của Nhà nước và điều kiện thực tế của địa phương đặc biệt Luật Đầu tư công mới được ban hành cũng là giải pháp, căn cứ để xử lý tình trạng nợ đọng XDCB.

Năm là, tỉnh cần có giải pháp cụ thể đối các trường hợp nợ đọng kéo dài; thực hiện xây dựng các công trình theo đúng thiết kế, mức đầu tư đã được phê duyệt. Không giao dự án đầu tư mới cho các chủ đầu tư, ban quản lý dự án có các dự án chậm nộp báo cáo quyết toán từ 24 tháng trở lên theo đúng quy định của Nhà nước. Không bố trí vốn để thanh toán số vốn còn thiếu cho các dự án chậm nộp hồ sơ quyết toán từ 12 tháng trở lên. Đặc biệt, không cho phép nhà thầu đang có hợp đồng vi phạm quy định về thời gian lập hồ sơ quyết toán được tham gia đấu thầu dự án mới.

Sáu là, trong quá trình tìm giải pháp và thực hiện giải quyết vấn đề nợ đọng cần phát hiện những sơ hở, yếu kém, vi phạm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các cơ quan, tổ chức cá nhân khác trong việc thực hiện các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ; chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của các cơ quan lập, thẩm định, phê duyệt các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền; xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan (gắn với trách nhiệm cá nhân) trong việc để phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản trong thời gian qua. Đồng thời kiến nghị điều chỉnh những tồn tại, bất cập về cơ chế, chính sách trong quản lý dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ nhằm tăng cường quản lý đầu tư, xử lý và giảm nợ đọng xây dựng cơ bản theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại các Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011, Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28/6/2013.

Xử lý nợ đọng XDCB được xem là một nội dung quan trọng của tái cơ cấu đầu tư công và lập lại kỷ cương trong đầu tư XDCB. Giải quyết nợ đọng trong xây dựng cơ bản (XDCB) vẫn đang là bài toán cực khó, đặc biệt trong bối cảnh “tấm chăn” ngân sách ngày càng chật hẹp so với nhu cầu đầu tư phát triển và cơ chế phân cấp còn quá nhiều bất cập. Đã đến lúc tấ cả các ngành, các cấp, các địa phương cùng đồng lòng nỗ lực tham gia xử lý nợ đọng XDCB nhằm đảm bảo an ninh tài chính, an toàn nợ công  hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững. Tuy nhiên, khi chưa thể đổi mới từ gốc - từ thể chế và cần thời gian nhất định để có thể thay đổi cơ chế phân cấp cũng như sửa luật ngân sách, thì sự đi đôi giữa nói và làm - thực thi các giải pháp ngắn hạn, là hết sức cấp thiết. Và, quan trọng hơn cần tạo lập lại niềm tin cho doanh nghiệp và người dân - những người đang trực tiếp nộp thuế để xây dựng đất nước./.

Nguyễn Mạnh Thắng

Trưởng phòng Kinh tế- Ngân sách.

Các tin đã đưa ngày: