Hiến pháp năm 2013- Nền tảng pháp lý cải cách toàn diện hoạt động tố tụng

22/10/2014

Kế thừa những thành tựu lập hiến của các bản Hiến pháp nước ta trước đây, đồng thời, tiếp thu những tư tưởng mới về Nhà nước pháp quyền, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội Khoá XIII thông qua ngày 28/11/2013 là cơ sở hiến định cho công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước ta, đặc biệt, với những đổi mới căn bản về quyền con người (chương II) và quy định về toà án (chương VIII), Hiến pháp 2013 đã tạo cơ sở hiến định cải cách toàn diện hoạt động tố tụng ở nước ta trong thời gian tới, thể hiện qua các nội dung:


Hội nghị tuyên truyền, phổ biến hiến pháp năm 2013 tại Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh

Một là, Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ hơn về quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong các quyền cơ bản của con người, được ghi nhận tại Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hiệp quốc năm 1948, Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (1966) và được Việt Nam cam kết thực hiện thông qua sự kiện gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 24/9/1982.

Nếu như Hiến pháp 1992 chỉ quy định chung chung, giới hạn trong phạm vi quyền công dân Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm

Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.

Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân (Điều 71),

Thì Hiến pháp 2013 đã quy định theo hướng: quyền bất khả xâm phạm về thân thể là quyền tự nhiên, quyền bẩm sinh của con người, đồng thời quy định rõ nội hàm và các yêu cầu của quyền này tại Điều 20:

“1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khoẻ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”.

Việc hiến định rõ ràng, cụ thể nguyên tắc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm ngăn chặn mọi hành vi tuỳ tiện xâm phạm về thân thể, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm con người. Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, Hiến pháp 2013 đã quy định rất chặt chẽ: “việc bắt, giam, giữ người do luật định” để tránh sự tuỳ tiện trong việc bắt, giam, giữ người. Quy định này của Hiến pháp đã đặt ra yêu cầu về việc ban hành luật về bắt, tạm giữ, tạm giam để đảm bảo thực hiện nghiêm trên thực tế nguyên tắc này của Hiến pháp.

Hai là, Hiến pháp năm 2013 đã làm rõ hơn nguyên tắc suy đoán vô tội

Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản, được ứng dụng rộng rãi trong nền khoa học pháp lý hiện đại và được đánh giá là thành tựu vĩ đại của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người. Điều 11 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948) khẳng định: “Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ”; Khoản 2, Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định: “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật”. Nguyên tắc này được Việt Nam cam kết thực hiện thông qua sự kiện gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 24/9/1982.

Điều 72 Hiến pháp 1992 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

Theo quy định này, chỉ cần một điều kiện là đã có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thì một người bị coi là có tội và phải chịu hình phạt. Quy định này chưa thật sự phù hợp với nguyên tắc suy đoán vô tội đã được ghi nhận tại các công ước quốc tế nêu trên. Trên thực tế, nguyên tắc suy đoán vô tội chưa được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thật sự quan tâm chú trọng trong hoạt động tố tụng. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng ép cung, bức cung, tình trạng oan, sai trong hoạt động tố tụng ở một số địa phương mà các phương tiện thông tin đại chúng đã nêu thời gian qua.

Khắc phục hạn chế của Hiến pháp 1992, Khoản 1, Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định:

“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”.

Như vậy, Hiến pháp 2013 đã quy định chặt chẽ hơn, phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Theo quy định này, một người chỉ bị coi là có tội khi thoả mãn hai điều kiện: (1) việc phạm tội phải được chứng minh theo trình tự luật định và (2) có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Việc ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội như trên đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt, chặt chẽ hơn đối với hoạt động tố tụng. Theo đó, nghĩa vụ chứng minh hành vi phạm tội thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng và phải thực hiện theo trình tự luật định; bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội; mọi sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, chứng minh làm rõ, nếu không chứng minh làm rõ được sự nghi ngờ thì sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo phải được giải thích theo hướng có lợi cho họ.

 Với ý nghĩa như trên, việc hiến định nguyên tắc này sẽ góp phần tích cực khắc phục sự định kiến của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đối với người bị tình nghi, người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo. Cùng với việc ghi nhận nguyên tắc quyền bất khả xâm phạm về thân thể, việc quy định rõ hơn nguyên tắc suy đoán vô tội trong Hiến pháp 2013 sẽ hạn chế tối đa tình trạng ép cung, bức cung, làm sai lệch vụ án dẫn đến oan, sai, đồng thời còn tạo điều kiện để bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình.

Ba là, Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng quyền bào chữa của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

Điều 132 Hiến pháp 1992 quy định: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình”. Theo quy định này, một người chỉ có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình khi đã có quyết định của Tòa án đưa họ ra xét xử. Như vậy, quyền bào chữa đã bị bó hẹp theo quy định của điều luật nêu trên.

Khắc phục bất cập của Hiến pháp 1992, Khoản 4, Điều 31 Hiến pháp 2013 đã quy định, một người, ngay từ khi bị bắt, đã có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình; “người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Cùng với nguyên tắc quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nguyên tắc suy đoán vô tội, việc mở rộng quyền bào chữa theo quy định của Điều 132 Hiến pháp 2013 sẽ góp phần tránh những oan, sai đáng tiếc xảy ra trong hoạt động tố tụng như thời gian vừa qua.

Bốn là, Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, vị trí, vai trò của Toà án được khẳng định rõ trong Hiến pháp năm 2013

Theo đó, Điều 102 Hiến pháp 2013 đã quy định: Toà án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, với nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Cùng với các quy định: Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, quy định Toà án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, Hiến pháp 2013 đã thể hiện khá rõ nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Đồng thời, đã khẳng định vị trí, vị thế quan trọng của Toà án trong bộ máy nhà nước, tạo cơ sở hiến định để đổi mới mạnh mẽ tổ chức, hoạt động của Toà án trong thời gian tới, góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý.

Năm là, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định mạnh mẽ hơn nguyên tắc xét xử độc lập

Xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử, đảm bảo các quyết định xét xử không bị ảnh hưởng bởi bất cứ yếu tố nào không liên quan tới vụ án. Chỉ có như vậy, tính thượng tôn của pháp luật mới được đảm bảo, việc xét xử mới khách quan, công tâm, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 130 Hiến pháp 1992 quy định khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Khoản 2, Điều 103 Hiến pháp 2013 đã khẳng định mạnh mẽ hơn nguyên tắc này: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”. Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu hoàn thiện Luật Tổ chức Tòa án, các luật về tố tụng theo hướng đảm bảo Toà án/thẩm phán không chỉ độc lập với cơ quan hành chính, với các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan khác, mà còn phải độc lập với lãnh đạo của Toà án và Toà án cấp trên. Mặt khác, với nguyên tắc này, có thể thấy, những bản án ban hành có sự can thiệp của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đều có thể bị cọi là vi hiến và vô hiệu.

Sáu là, Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, nguyên tắc tranh tụng được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013

Nguyên tắc tranh tụng thời gian qua mới được thể hiện trong các văn kiện của Đảng về cải cách tư pháp (nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị“Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”). Tuy nhiên, việc tranh tụng theo các Nghị quyết này mới chỉ là tranh tụng tại phiên tòa, chưa phải là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động tố tụng.

Khoản 5, Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Việc hiến định nguyên tắc này thể hiện bước tiến mạnh mẽ trong cải cách tư pháp của nước ta. Quy định nêu trên cho thấy, việc tranh tụng không chỉ diễn ra ở phiên tòa mà rộng hơn, bao gồm cả ở các giai đoạn tố tụng khác.

Với quy định này, đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, chủ thể tham gia tố tụng phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm tạo môi trường bình đẳng, dân chủ trong hoạt động tố tụng, đồng thời không ngừng nâng cao trình độ, năng lực để  hạn chế tình trạng chủ quan, duy ý chí trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Sự kết hợp giữa nguyên tắc suy đoán vô tội với quy định về mở rộng quyền bào chữa và nguyên tắc tranh tụng, yêu cầu về mở rộng quyền của luật sư là tất yếu, góp phần rất quan trọng để Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng oan, sai.

Tóm lại, Hiến pháp 2013 đã tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho cải cách đồng bộ, toàn diện hoạt động tố tụng, đây chính là điều kiện mới cho sự phát triển nền tư pháp theo hướng dân chủ, hiện đại, phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập của đất nước.

                                               Lê Thị Phương Hoa

                                                  Phó Trưởng Ban Pháp chế HĐND tỉnh

Các tin đã đưa ngày: