Sửa đổi Luật ngân sách nhà nước phải đáp ứng yêu cầu của hiến pháp

20/04/2015

Luật ngân sách nhà nước (NSNN) đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004. Qua 10 năm tổ chức thực hiện Luật NSNN đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: góp phần xây dựng nền tài chính quốc gia vững mạnh, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XIII tỉnh

tổ chức lấy ý kiến tham gia của các sở, ngành vào Dự thảo Luật Ngân sách (sửa đổi).

Bên cạnh đó, hoạt động của NSNN cũng như cơ chế quản lý, điều hành NSNN bộc lộ một số hạn chế như: phạm vi ngân sách chưa thật rõ ràng; việc quản lý các khoản phí, lệ phí còn chưa thống nhất; phân cấp về nguồn thu giữa ngân sách trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP) còn có điểm chưa phù hợp với thực tiễn; NSTW có xu hướng giảm dần vai trò chủ đạo; căn cứ xây dựng dự toán NSNN hàng năm còn chưa đầy đủ, chưa gắn kết chặt chẽ giữa dự toán ngân sách hàng năm với kế hoạch tài chính - NSNN trung hạn; việc quản lý NSNN chưa thật chặt chẽ, chưa gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị để bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả.

Trên cơ sở quán triệt các quy định của Hiến pháp năm 2013, để khắc phục những tồn tại của Luật NSNN và đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra trong quá trình tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ X và XI của Đảng, cần thiết phải sửa đổi Luật NSNN một cách căn bản, toàn diện.

Quan điểm, mục tiêu xuyên suốt toàn bộ dự thảo Luật là phải tuân thủ Hiến pháp năm 2013, theo đó NSNN được quản lý thống nhất, NSTW giữ vai trò chủ đạo; bảo đảm bố trí ngân sách để thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước; bảo đảm vai trò của Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, quyết định dự toán NSNN, phân bổ NSTW, quyết định các chính sách tài chính - ngân sách cơ bản và phê chuẩn quyết toán NSNN, đồng thời tạo điều kiện cho Chính phủ chủ động trong việc tổ chức điều hành NSNN trong khuôn khổ dự toán NSNN được Quốc hội quyết định; đẩy mạnh cải cách hành chính, mở rộng quyền tự chủ đi đôi với tăng cường giám sát thực hiện, dân chủ, công khai, tăng cường minh bạch; từng bước đưa công tác quản lý NSNN ở nước ta phù hợp với thông lệ quốc tế.

Dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi) đã được Quốc hội cho ý kiến lần đầu tại kỳ họp thứ 8 (tháng 11 năm 2014), tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, lần này Chính phủ trình dự thảo Luật Ngân sách nhà nước với bố cục gồm 7 chương, 76 Điều.

Tuy nhiên, qua việc lấy ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội và các tổ chức, cá nhân liên quan vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, cần được xem xét, đánh giá một cách thận trọng hơn, đó là:

Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 55 của Hiến pháp năm 2013 thì Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật. Trong dự thảo Luật ngân sách nhà nước lần này vẫn tồn tại các quỹ tài chính ngoài ngân sách, là quỹ do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập, hoạt động độc lập với ngân sách nhà nước, tập trung nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Nhiều ý kiến cho rằng việc thành lập nhiều quỹ tài chính hiện nay nhưng chủ yếu nguồn vốn vẫn từ ngân sách nhà nước cấp và lại thực hiện nhiệm vụ theo Điều lệ riêng của Quỹ nên các đại biểu băn khoăn về tính hiệu quả cũng như sự đánh giá về tính minh bạch trong quá trình vận hành Quỹ. Bên cạnh đó việc lồng ghép ngân sách cho các chương trình mục tiêu quốc gia (hiện nay cả nước đang thực hiện 16 chương trình mục tiêu quốc gia với số vốn huy động trong giai đoạn từ 2011- 2013 là 92.677 tỷ đống, bằng 3,5% tổng chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2013 và chỉ bằng 33,5% so với kế hoạch của cả giai đoạn 2011-2015) đã dẫn đến sự dàn trải trong bố trí, phân bổ ngân sách nhà nước mà hiệu quả từ các chương trình mang lại không cao, gây thất thoát, lãng phí do phần lớn các chương trình mục tiêu đều có thời gian thực hiện dài, dàn trải trên nhiều lĩnh vực, thậm chí trùng lắp giữa các nhiệm vụ của chương trình.  

Thứ hai, việc sửa đổi luật ngân sách nhà nước phải phù hợp với luật Tổ chức chính quyền địa phương và các luật chuyên ngành khác như luật Kiểm toán, luật Đầu tư công...nhằm tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cấp ngân sách, của các cấp chính quyền địa phương cũng như trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, góp phần hạn chế tiến tới xoá bỏ cơ chế xin- cho trong điều hành ngân sách như những năm trước đây. Cụ thể tại Điều 15 của dự thảo luạt quy định về Công khai ngân sách nhà nước và giám sát ngân sách nhà nước của cộng đồng. Ở đây cần làm rõ khái niệm giám sát của cộng đồng là như thế nào, phải rõ chủ thể giám sát và các tiêu chí công khai để các chủ thể có thể thực hiện quyền giám sát của mình.

Thứ ba, về nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước, luật cần quy định để đưa ra các tiêu chuẩn, định mức chi tiêu phù hợp thực tế, tránh tình trạng tiêu chuẩn, định mức mới ban hành đã bị lạc hậu, không áp dụng được trong thực tiễn dẫn đến tình trạng cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước thường phải “chế biến”, tạo tiền lệ không tốt trong xã hội cũng như hiệu lực thực thi luật pháp không nghiêm.

Thứ tư, về kỹ thuật lập pháp dự thảo luật cũng cần nêu ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu và dễ thực hiện. Một số thuật ngữ thể hiện trong dự thảo luật còn mang tính hô hào khẩu hiệu, chung chung (góp phần, thúc đẩy, tăng cường....). Một số điều luật còn nặng về diễn giải dài dòng, ví dụ tại khoản d, điều 9 “Trường hợp đặc biệt có phát sinh nguồn thu mới làm ngân sách địa phương tăng thu lớn thì số tăng thu phải nộp về ngân sách cấp trên . Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định thu về ngân sách cấp trên số tăng thu này và thựuc hiện bổ sung có mục tiêu một phần cho ngân sách cấp dưới theo quy định tại điểm d khoản 3 điều 40 luật này để hỗ trợ đầu tư cho cơ sở hạ tầng ở địa phương theo dự án được cấp có thẩm quyền ở địa phương phê duyệt”. Ở đây cần làm rõ nguồn thu mới là nguồn thu nào và tăng thu lớn với giá trị tuyệt đối là bao nhiêu hay quy định bằng tỷ lệ tăng thu trên dự toán thu được giao./.

                 Nguyễn Văn Hoà

(Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh)

Các tin đã đưa ngày: